Trang chủ / Thư viện ảnh
Thư viện ảnh


21 - 23.4 2026
Cung Triển Lãm Kiến Trúc Quy Hoạch Xây Dựng Quốc Gia (NECC)
Ngày
Giờ
Phút
MINING VIETNAM 2024: KHÉP LẠI ẤN TƯỢNG, MỞ RA TẦM NHÌN MỚI CHO NGÀNH KHAI KHOÁNG!
Sau 3 ngày diễn ra sôi động tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia (NECC – Hà Nội), Mining Vietnam 2024 đã thu hút hàng nghìn lượt khách tham quan cùng hàng trăm doanh nghiệp trong và ngoài nước. Triển lãm đã mở ra vô vàn cơ hội hợp tác và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Khai thác khoáng sản, Chế biến tài nguyên, và Ứng dụng công nghệ bền vững.
Ban tổ chức xin chân thành cảm ơn các đơn vị trưng bày, nhà tài trợ, đối tác và toàn thể khách tham quan đã cùng tạo nên một kỳ triển lãm chuyên ngành ấn tượng, nhiều kết nối giá trị và mang đậm tính thời sự của ngành khai khoáng.
Hãy cùng theo dõi và chờ đón Mining Vietnam trở lại hoành tráng hơn vào năm 2026 – nhiều đổi mới, nhiều công nghệ tiên phong, và nhiều cơ hội đầu tư chiến lược hơn!
Sự kiện nổi bật
New
- 07/08/2025
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết đã phát hiện mới 489 điểm khoáng sản các loại; xác định khu vực khoáng sản có triển vọng như đất hiếm ở Bảo Thắng (Lào Cai) và Lai Châu; vàng ở Tuyên Quang…
Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến nay đã hoàn thành 14 đề án lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản phần đất liền trên diện tích 42.550km2 (nâng tổng diện tích đã lập đạt 73,19% diện tích đất liền).

Đáng chú ý, theo Bộ này, đã phát hiện và ghi nhận nhiều điểm mỏ, trong đó nhiều điểm mỏ đã được làm rõ tiềm năng tài nguyên và được Nhà nước đầu tư thăm dò xác định trữ lượng, như: Than đá bể than Quảng Ninh, apatit Lào Cai; khoáng sản phóng xạ, đất hiếm trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Lai Châu; các mỏ kim loại có quy mô lớn như quặng đồng dải Sin Quyền (Lào Cai), chì – kẽm Chợ Đồn, Chợ Điền (Bắc Kạn), mỏ Niken Bản Phúc (Sơn La), mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam)…
“Kết quả thăm dò, xác định trữ lượng đã được cấp phép khai thác khoáng sản kịp thời, hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế đất nước qua các thời kỳ”, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho hay.
Đến nay đã hoàn thành điều tra địa chất, khoáng sản trên diện tích hơn 244.000km2 vùng biển độ sâu 0-100m nước; 24 đề án đánh giá khoáng sản.
Từ kết quả điều tra, đánh giá đã đăng ký trên bản đồ 841 điểm khoáng sản, khoáng hóa. Trong đó, phát hiện mới 489 điểm khoáng sản các loại như: quặng sắt ở Tân An (Yên Bái); graphit ở Bảo Thắng (Lào Cai); vàng ở Tân Uyên (Lai Châu), Phước Sơn (Quảng Nam); kaolin-felspat ở Bảo Thắng (Lào Cai), Tân Biên (Tây Ninh); quặng đồng ở Kon Rẫy (Kon Rá, Kon Tum).
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, công tác điều tra, đánh giá khoáng sản đã phát hiện và xác định tài nguyên các khu vực có triển vọng, gồm: đất hiếm ở Bảo Thắng (Lào Cai) và Lai Châu; vàng ở Yên Sơn (Tuyên Quang); đồng ở Bát Xát (Lào Cai); felspat ở Bắc Yên (Sơn La); đá cảnh ở Thanh Sơn (Phú Thọ); cát trắng ở ven biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; đá ốp lát ở Gia Lai, cát biển vùng biển Sóc Trăng….
Một số đề án đã điều tra, đánh giá đến độ sâu 500m như mỏ than Đồng bằng sông Hồng.

Đến nay gần 3.200 giấy phép thăm dò khoáng sản đã được cấp, từ đó góp phần gia tăng trữ lượng gần 40 loại khoáng sản như: đá vôi xi măng gần 1,8 tỷ tấn, than hơn 1,2 tỷ tấn, quặng bauxite gần 900 triệu tấn, đá vật liệu xây dựng thông thường gần 1 tỷ m3…
“Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, nhất là đối với than, vonfram – đa kim, xi măng… giảm tiêu hao điện, năng lượng, giảm tổn thất khoáng sản, sử dụng hiệu quả khoáng sản sau khai thác”, Bộ Tài nguyên và Môi trường thông tin.
Trong tài liệu mới gửi tới Bộ Tư pháp, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Quý Kiên nhận định, sau 13 năm thực hiện Luật Khoáng sản đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp và gây khó khăn khi thực hiện.
Cụ thể gồm một số vấn đề liên quan đến khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng – nhất là cát, sỏi lòng sông, đất đá bóc tầng phủ, đất đá thải làm vật liệu xây dựng thông thường để phục vụ cho các dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án đầu tư công; khai thác, sử dụng khoáng sản đi kèm khi khai thác khoáng sản chính; kiểm soát sản lượng khai thác khoáng sản theo từng giấy phép; vấn đề phân cấp, phân quyền trong quản lý hoạt động địa chất, khoáng sản,…
Hơn nữa, nhiều luật liên quan đến địa chất, khoáng sản đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhưng Luật Khoáng sản chưa được sửa đổi, bổ sung đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ.
Vì thế, Bộ Tài nguyên và Môi trường hi vọng dự án Luật Địa chất và Khoáng sản được xây dựng mới sẽ khắc phục những tồn tại, bất cập và quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ngành này.
Nguồn: dantri.com.vn
New
- 07/08/2025
Đứng thứ ba trên thế giới về tiềm năng khai thác đất hiếm, Việt Nam có thể tham gia chính vào trong chuỗi cung ứng đất hiếm. Đây là cách các nhà đầu tư nước ngoài có thể can thiệp.

Đất hiếm là nguyên tố cần thiết để sản xuất các sản phẩm khác nhau, bao gồm thuốc điều trị ung thư, điện thoại thông minh và công nghệ năng lượng tái tạo. Hiện tại, Trung Quốc chiếm 63% sản lượng khai thác đất hiếm trên thế giới, 85% chế biến đất hiếm và 92% sản lượng nam châm đất hiếm.
Khi thế giới hướng tới một tương lai năng lượng xanh và xung đột thương mại vẫn tồn tại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, các nguồn đất hiếm thay thế đang có nhu cầu. Với những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ, môi trường đầu tư thuận lợi và nguồn cung đất hiếm lớn thứ ba thế giới, Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này.
Chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu
Đất hiếm là nhóm nguyên tố hóa học kim loại khó tìm thấy với số lượng lớn, chúng có các tính chất điện hóa và từ tính đặc biệt. Trái ngược với tên gọi của chúng, đất hiếm không phải lúc nào cũng đặc biệt hiếm và có thể được tìm thấy trên khắp lớp vỏ trái đất. Tuy nhiên, chúng thường được phân phối với khối lượng lớn hơn trong các khoản tiền gửi nhỏ hơn, khiến việc khai thác chúng trở nên khó khăn và tốn kém.
Dự trữ đất hiếm toàn cầu đã được Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ước tính là 120 triệu tấn. Trong đó, Trung Quốc 44 triệu tấn, Brazil 22 triệu tấn, Việt Nam 20 triệu tấn, tiếp theo là Nga 18 triệu tấn.
Thị phần và địa chính trị của Trung
Theo một số nghiên cứu, Trung Quốc sở hữu hơn 90% nguồn cung đất hiếm toàn cầu. Kết quả là, Trung Quốc có khả năng sử dụng đất hiếm như một công cụ địa chính trị. Ví dụ, Trung Quốc đã đe dọa ngừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản vào năm 2010 vì một tàu đánh cá Trung Quốc bị bắt giữ. Đáng chú ý, điều này đã thúc đẩy các nhà khoa học Nhật Bản thăm dò, đánh giá các mỏ đất hiếm ở Việt Nam.
Tình trạng mất cân bằng này đã gây lo ngại cho những khách hàng phụ thuộc vào nguồn cung đất hiếm của Trung Quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Châu Âu. Hơn nữa, giá đất hiếm tiếp tục tăng mạnh, khiến nhiều quốc gia phải hồi sinh ngành công nghiệp khai thác đất hiếm của riêng họ hoặc tìm kiếm các nguồn cung cấp thay thế bên ngoài Trung Quốc.
Trữ lượng đất hiếm của Việt Nam
Việt Nam có trữ lượng đất hiếm khoảng 20 triệu tấn, phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Bắc Tổ quốc. Các nguồn dự trữ này được định giá khoảng 3 nghìn tỷ đô la Mỹ, mang lại cơ hội đáng kể cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Khai thác đất hiếm ở Việt Nam tập trung ở Tây Bắc và Tây Nguyên và bao gồm các nhóm đất hiếm nhẹ có nguồn gốc nhiệt dịch. Nhiều điểm tụ khoáng đất hiếm đã được xác định như Bắc Nậm Xe, Nậm Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), Mường Hum (Lào Cai), Yên Phú (Yên Bái). Ngoài ra còn có một số mỏ đất hiếm nhỏ rải rác dọc bờ biển từ Quảng Ninh đến Vũng Tàu.
Tác động môi trường và xã hội của việc khai thác và chế biến khoáng sản đất hiếm
Khai thác và chế biến quặng đất hiếm tạo ra một lượng chất thải đáng kể, dẫn đến tác động tiêu cực đến môi trường. Đá thải được lưu giữ trong các bãi chôn lấp và thường xuyên tiếp xúc với môi trường, có thể gây ra các chất độc hại hòa tan và phát tán trong hệ thống nước ngầm và đất.
Kinh nghiệm của Trung Quốc là một ví dụ rõ ràng về tác hại của việc khai thác đất hiếm, theo đó việc sử dụng công nghệ lạc hậu trong khai thác đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Sông Hoàng Hà, nguồn nước quan trọng cho hơn 150 triệu người, đã bị đe dọa bởi chất thải từ các mỏ đất hiếm. Ở tỉnh Quảng Đông, axit mạnh rò rỉ từ các điểm khai thác đất hiếm gần đó đã làm hư hại ruộng lúa, suối và kênh rạch.
Để đối phó với những lo ngại về môi trường và sức khỏe này, Trung Quốc đã giảm sản lượng khai thác và đưa ra quy định chặt chẽ hơn về khai thác đất hiếm vào năm 2012.

Những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong khai thác và chế biến đất hiếm
Công nghệ
Doanh nghiệp Việt thiếu công nghệ chế biến sâu Nhiều công ty thăm dò và chế biến đã phải vật lộn để tiếp cận công nghệ chế biến, tạo ra một thách thức đáng kể cho các doanh nghiệp thâm nhập thị trường nội địa và thiết lập xuất khẩu.
Sự cam kết
Các doanh nghiệp trong nước chưa thực sự cam kết đầu tư nghiên cứu và có chiến lược toàn diện hơn đối với công nghệ chế biến quặng đất hiếm. Rõ ràng là thiếu đầu tư, cũng như không có chiến lược nghiên cứu và phát triển toàn diện cho lĩnh vực này.
Cơ chế, chính sách
Các cơ chế và chính sách pháp lý có ý nghĩa quyết định để thúc đẩy các hoạt động khai thác đất hiếm. Nghị quyết số 10 ban hành ngày 2/10/2021 thừa nhận tầm quan trọng của việc duy trì hoạt động khai thác đất hiếm. Tuy nhiên, nó chỉ dừng lại ở việc cung cấp các cơ chế và chính sách cụ thể. Đáng chú ý, đầu tư cho nghiên cứu và hợp tác quốc tế là cần thiết để thúc đẩy việc khai thác các khoáng sản này.
Các doanh nghiệp chỉ có thể hoàn thành 40% quá trình xử lý cần thiết để làm cho đất hiếm có thể sử dụng được. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn xuất khẩu tối thiểu của Bộ Công Thương là 95%.
Các công ty lớn trong nước trong ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (CAVICO Việt Nam) và Viện Công nghệ Bức xạ Việt Nam vừa ký kết thỏa thuận hợp tác nghiên cứu, phát triển và xây dựng nhà máy chế biến sâu đất hiếm scandium. Thỏa thuận này được kỳ vọng sẽ mở đường cho sự phát triển của ngành công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam.
Hiện tại, CAVICO Việt Nam đang vận hành một cơ sở khai thác và chế biến tại Lào, có diện tích 80 km2 tại tỉnh Bolikhamxay. Đây là theo giấy phép đầu tư cho phép khai thác và chế biến quặng niken, sắt, coban, vàng và bạc.
Doanh nghiệp quốc tế hoạt động trong ngành đất hiếm Việt Nam
Phối hợp với Nhật Bản, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã phát hiện các mỏ đất hiếm tại tỉnh Lào Cai bên cạnh các mỏ tại Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, Kon Tum và Lâm Đồng.
Tháng 12/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp phép cho Công ty Cổ phần đất hiếm Lai Châu và đối tác Nhật Bản được khai thác quặng đất hiếm tại một điểm ở tỉnh Lai Châu. Mỏ này được cho là có trữ lượng lớn nhất cả nước và có khả năng khai thác công nghiệp quy mô lớn.
Ngoài Lai Châu, Bộ cũng đã cấp phép khai thác đất hiếm cho tỉnh Yên Bái. Mặc dù mỏ này có trữ lượng nhỏ hơn nhưng vẫn còn hoang sơ và có thể mang lại lợi nhuận cao nếu được khai thác hợp lý và hiệu quả.
Năm 2022, Công ty Cổ phần Đất hiếm Việt Nam đã ký kết thỏa thuận xuất khẩu đất hiếm với Công ty TNHH Kim loại ASM & KSM và chính quyền tỉnh Chungcheongbuk-do, Hàn Quốc. Điều này sẽ cho thấy hai công ty hợp tác với nhau để phát triển hoạt động khai thác tại tỉnh Yên Bái. Ước tính khu vực này chứa trữ lượng 30.000 tấn đất hiếm.

Chính sách và quy định của chính phủ
Nghị quyết số 10-NQ/TW, ban hành ngày 10/02/2022
Nghị quyết này vạch ra các định hướng chiến lược cho ngành địa chất, khoáng sản và khai khoáng đến năm 2030. Nghị quyết bao gồm bốn mục tiêu chính.
Tài nguyên địa chất và khoáng sản được coi là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội và cần được quy hoạch, điều tra, thăm dò đầy đủ.
Điều tra cơ bản địa chất và khoáng sản phải được tiến hành chủ động, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Quản lý quy hoạch, điều tra cơ bản địa chất và khoáng sản, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản phải có tầm nhìn chiến lược, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Phải có sự gắn kết hiệu quả giữa quy hoạch, điều tra, thăm dò, khai thác với chế biến và sử dụng khoáng sản.
Luật khoáng sản
Luật Khoáng sản điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của hoạt động khoáng sản ở Việt Nam, bao gồm các quy định chung, chiến lược và quy hoạch khoáng sản và trách nhiệm bảo vệ khoáng sản chưa khai thác. Ngoài ra còn có các quy định về điều tra cơ bản địa chất, bảo vệ môi trường, thăm dò, khai thác khoáng sản và tài chính.
Cam kết quốc tế của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài vào khai khoáng
CPTPP
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định các điều kiện đối với đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khai khoáng tại Việt Nam. Về cơ bản, việc chấp thuận đầu tư nước ngoài sẽ chỉ được cấp nếu dự án đầu tư được coi là mang lại lợi ích ròng cho Việt Nam.
Các yếu tố khác nhau được tính đến. Điều này bao gồm: tác động của dự án đối với hoạt động kinh tế, tạo việc làm, thiết bị và dịch vụ được sản xuất và xuất khẩu từ Việt Nam, mức độ và tầm quan trọng của việc Việt Nam tham gia vào dự án, năng suất, hiệu quả kinh tế, công nghệ sẽ được phát triển tại Việt Nam, đổi mới sản phẩm, cạnh tranh, và sự tương thích của dự án với các chính sách quốc gia khác.
VKFTA và EVFTA
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) cho phép thành lập liên doanh với phần vốn góp của bên nước ngoài không quá 51% hoặc doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam. Cục đầu tư nước ngoài.
Cơ hội đầu tư vào ngành khoáng sản đất hiếm Việt Nam
Năm 2022, Việt Nam là nước tiếp nhận 108 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành khai khoáng, với tổng vốn đăng ký là 4,9 tỷ USD.
Ngành công nghiệp khai khoáng của Việt Nam rất đa dạng, trong đó khoáng sản đất hiếm ngày càng trở thành trọng tâm quan trọng của ngành. Điều này được thúc đẩy bởi các báo cáo rằng quốc gia này có một trong những trữ lượng khoáng sản đất hiếm lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, Việt Nam còn có vị trí địa lý thuận lợi, tiếp cận được với các thị trường trọng điểm trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là những thị trường nhập khẩu khoáng sản đất hiếm lớn.
Chính phủ Việt Nam đã xác định ngành công nghiệp khai khoáng, trong đó có lĩnh vực khoáng sản đất hiếm, là ưu tiên phát triển và đã đưa ra các biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài. Những biện pháp này bao gồm các ưu đãi về thuế, thủ tục đơn giản hóa để xin giấy phép khai thác và thành lập các khu công nghiệp dành riêng cho khai thác và chế biến.
Các nhà đầu tư muốn đầu tư vào ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam có thể hưởng lợi từ vị trí chiến lược của quốc gia này ở Đông Nam Á, các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động lành nghề với chi phí thấp.
Theo: Vietnam Briefing
New
- 07/08/2025
Đất hiếm là một loại khoáng sản đặc biệt, có vai trò quan trọng và là vật liệu chiến lược đối với sự phát triển của các ngành kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn chưa khai thác và chế biến sâu được đất hiếm bởi chúng ta chưa có công nghệ khai thác, chế biến loại khoáng sản này, đây lại là lĩnh vực các nước giữ độc quyền, không chuyển giao công nghệ. Do đó, Nhà nước cần chú trọng đầu tư cho nghiên cứu công nghệ khai thác, chế biến đất hiếm.
Việt Nam có trữ lượng đất hiếm đứng thứ hai thế giới
Theo ước tính của Cục Khảo sát địa chất Mỹ, trữ lượng đất hiếm của thế giới là 120 triệu tấn. Trong đó, trữ lượng đất hiếm ở Việt Nam đạt khoảng 22 triệu tấn (chiếm hơn 18% trữ lượng đất hiếm thế giới), đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc với 44 triệu tấn (chiếm hơn 36% trữ lượng đất hiếm thế giới). Đất hiếm là một loại khoáng sản chứa 17 loại vật chất có từ tính và tính điện hóa đặc biệt. Nguyên tố trong đất hiếm là vật liệu chiến lược đối với sự phát triển của các ngành kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao như: Điện, điện tử, quang học, laser, vật liệu siêu dẫn, chất phát quang.
Bên cạnh đó, đất hiếm được dùng để sản xuất các chất xúc tác, nam châm, hợp kim, bột mài, gốm, chất phát quang. Việc chế tạo các máy điện thoại di động, ổ đĩa cứng máy tính, xe ô tô điện, pin mặt trời, tua bin gió… cũng phải dùng đến đất hiếm. Mặc dù giá trị giao dịch của đất hiếm trên thế giới hiện nay chỉ dưới 10 tỷ USD một năm nhưng đây lại là nguyên liệu chiến lược, không thể thay thế đối với nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia phát triển.
Đất hiếm tại Việt Nam phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bắc. Khu vực này có những mỏ đất hiếm đã được thăm dò và xác định giá trị kinh tế cao. Khu vực Tây Bắc tồn tại rất phong phú các đá magma kiềm và á kiềm giàu các nguyên tố đất hiếm, đây là điều kiện thuận lợi để hình thành các mỏ đất hiếm. Hiện nay, mỏ đất hiếm kiểu quặng gốc ở tỉnh Lai Châu có trữ lượng lớn nhất cả nước, có thể khai thác theo quy mô công nghiệp. Trên địa bàn tỉnh Lai Châu ghi nhận có 4 mỏ, điểm khoáng sản đất hiếm. Một số mỏ đất hiếm cũng được tìm thấy ở các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn,…
Giáo sư, Viện sĩ Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, ý thức được tầm quan trọng của đất hiếm, Đảng và Nhà nước ta đã chú ý, thăm dò, đánh giá trữ lượng từ hơn 40 năm nay. Những nghiên cứu định hướng khai thác, chế biến, ứng dụng khoáng sản đất hiếm đã được Nhà nước đầu tư qua các chương trình khoa học-công nghệ và từ các chương trình của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan như: Phân chia, làm sạch nguyên tố đất hiếm; ứng dụng đất hiếm làm vật liệu xúc tác; chế tạo nam châm đất hiếm NdFeB; sản phẩm phân bón lá đa vi lượng chứa các nguyên tố đất hiếm…

Mặc dù đã đầu tư cho nghiên cứu đất hiếm, tuy nhiên, đến nay Việt Nam vẫn chưa khai thác và chế biến sâu được đất hiếm. Nguyên nhân chính là do Việt Nam chưa có công nghệ khai thác, chế biến đất hiếm. Chỉ một số ít quốc gia có công nghệ chế biến sâu đất hiếm nhưng lại giữ bản quyền, bí mật và không chuyển giao công nghệ như: Trung Quốc, Mỹ, Australia… Ngoài ra, đầu tư cho khoa học-công nghệ vào lĩnh vực này tại Việt Nam chưa đủ và không tập trung; lĩnh vực ứng dụng đất hiếm chưa tìm được vị trí xứng đáng trong nền kinh tế thị trường.
Tập trung chế biến sâu và ứng dụng đất hiếm
Theo Giáo sư Nguyễn Quang Liêm, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), giai đoạn khai thác và chế biến quặng tinh không mang lại hiệu quả kinh tế cao, sử dụng hóa chất chiết độc hại, gây ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, lợi nhuận kinh tế cao phần lớn ở các ứng dụng đất hiếm. Do đó, Giáo sư Nguyễn Quang Liêm đề xuất xây dựng dự án và phòng thí nghiệm nâng cao năng lực nghiên cứu, công nghệ khai thác, chế biến, trong đó tập trung chế biến sâu và ứng dụng đất hiếm trong những sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Khoa học vật liệu kiến nghị, trong thời gian tới, Nhà nước cần đặc biệt chú trọng đến chế biến đất hiếm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hàm lượng tổng oxit đất hiếm tối thiểu 95%; phân chia, làm sạch các oxit đất hiếm riêng rẽ phục vụ nghiên cứu và sản xuất, góp phần bảo vệ tài nguyên, môi trường; chế biến sâu đến kim loại. “Khi Việt Nam đang dần trở thành khu vực thu hút đầu tư cho các ngành xe điện, năng lượng thì việc phát triển nội lực công nghệ chế tạo kim loại đất hiếm đưa thành nguyên liệu chiến lược để nắm quyền chủ động hợp tác là hết sức cần thiết”-Phó giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Anh Sơn nhấn mạnh.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho rằng, cần tăng cường tiềm lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học về đất hiếm trong nước để nghiên cứu làm rõ thêm về trữ lượng và thành phần các nguyên tố đất hiếm trong các mỏ; nghiên cứu hoàn thiện công nghệ khai thác, chế biến sâu đất hiếm phù hợp với quặng Việt Nam. Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt kỳ vọng Việt Nam sẽ chủ động được công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác và chế biến sâu đất hiếm phục vụ nhu cầu trong nước, hướng tới xuất khẩu, bảo đảm môi trường.
Nguồn: Quân đội nhân dân